Trung tâm gia sư Olympia
gia su day kem


 

Cập nhật 24/7/2019 , Lượt xem: 146

Học tiếng và học chữ viết cái nào trước


Học tiếng và học chữ viết cái nào trước

Nên học tiếng hay chữ viết trước?

Gs Hồ Ngọc Đại và những bạn theo 'trường phái' CNGD chủ trương học tiếng trước chữ viết. Nói cách khác, trẻ em phải được dạy tiếng trước khi dạy chữ. Những người làm về giáo dục theo cách làm của muốn nói cho chúng ta rằng chỉ có phương pháp họ đề xướng (chứ không phải "phương pháp của họ") là tốt nhất. Nhưng trong thực tế, họ chẳng có chứng cứ khoa học gì để nói như thế. Thay vào đó, họ cố gắng giải thích bằng những thuật ngữ và chữ nghĩa rất khó hiểu. Qua vài video giải thích về đánh vần, tôi thấy họ vẫn không thuyết phục được đa số công chúng. Bằng chứng về nghiên cứu tâm lí cho thấy quan điểm của họ không phù hợp với kết quả nghiên cứu khoa học.

Home » gia sư tphcm » Học tiếng và học chữ viết: cái nào trước?

Do đó, nhân vụ bàn luận chung quanh cái 'Công nghệ giáo dục' (CNGD), là người 'ngoại đạo' và tò mò, tôi tìm hiểu những lí thuyết / trường phái trong tâm lí giáo dục. Những cuốn sách tôi tìm đọc bao gồm "Innovations in Educational Psychology: Perspectives on Learning, Teaching, and Human Development", "Educational Psychology: A Century of Contributions", "Evidence Based Educational Methods". Dĩ nhiên, tôi chỉ tập trung vào những chương sách có liên quan đến vấn đề đánh vần và lí thuyết đằng sau, chứ đâu có thì giờ đọc hết mấy bộ sách này. Tác giả các sách này là từ các nước phương Tây. Không thấy một phương pháp hay trường phái nào mà nhóm 'Công nghệ giáo dục' đề xướng trong các sách trên. Sự trống vắng này có thể hiểu được vì nhóm CNGD dựa vào lí thuyết nào đó bên Liên Xô, chứ không được công nhận hay không được đề cập bởi các học giả phương Tây.

Đọc cuốn "Evidence Based Educational Methods", tôi thấy giới giáo dục học phương Tây làm nghiên cứu khoa học chẳng khác gì cách chúng tôi làm trong y khoa. Họ cũng có những mô hình nghiên cứu đoàn hệ, thiết diện, 'bệnh chứng', và randomized controlled trials. Cách họ đo lường hiệu quả làm tôi sáng mắt ra, vì rất ư là innovative. Tôi thấy mình có thể học nhiều từ họ. Do đó, không nên biện minh rằng giáo dục học không thể làm nghiên cứu như bên khoa học 'hard'; ngược lại, tôi thấy các phương pháp nghiên cứu ngành giáo dục rất hay và phong phú.

Tôi cũng tìm đọc những bài tổng quan (review) về lí thuyết đánh vần trên các tập san giáo dục học. Những bài tôi đọc là "The implications of learning theory for the idea of general knowledge" (J Vocational Education and Training 2003) của John Stevenson, bài "A Review of Recent Research on Spelling" của Alan Brown (Educational Psychology Review, 1990) (1), mới nhất là bài "Learning to spell words: findings, theories, and issues" (2) của Rebecca Treiman (Scientific Studies of Reading 2017), và đặc biệt là bài "Learning to Read and Spell Words" (J Reading Behavior 1987) (3) rất có ích. Đọc những bài báo và chương sách này là một sự "mở mắt" cho cá nhân tôi, và qua đó tôi có lí do khó tin vào những gì mà nhóm 'Công nghệ giáo dục' đang truyền bá.

Bài báo của Treiman và những chương sách cung cấp nhiều thông tin và kiến thức rất có ích. Bài này điểm qua những nghiên cứu khoa học trong quá khứ về kiến thức của trẻ em về viết chữ và thị giác. Bài báo cũng điểm qua những lí thuyết về phát triển đánh vần. Những lí thuyết này bao gồm constructivist theory (thuyết cấu trúc), stage and phase theories, dual-route theories, integration of multiple patterns. Phần cuối bài viết, tác giả chỉ ra rằng dù nghiên cứu khoa học đã giúp cho giới giáo dục học biết trẻ em học đánh vần như thế nào nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời, trong đó có câu hỏi về trẻ học đánh vần các ngôn ngữ ngoài tiếng Anh ("We now have a good deal of information about how children learn to spell, but much work remains to be done. ... more studies are needed within learners of other languages"). Dĩ nhiên, hoàn toàn không có bất cứ một nghiên cứu nào từ Việt Nam hay tiếng Việt được đề cập đến.

Quay lại câu hỏi dạy tiếng trước khi dạy chữ có phải là cách dạy được thế giới công nhận là tốt nhất? Câu trả lời có vẻ là "không". Theo giới tâm lí học thì trước đây người ta tin rằng trẻ em học đánh vần bằng cách thuộc lòng những hình ảnh của mẫu tự, rồi nối kết mẫu tự với nhau. Nhưng những nghiên cứu khoa học trong vài thập niên gần đây cho thấy điều đó không đúng.

Các nghiên cứu mới khám phá rằng trẻ em học viết diễn ra theo trình tự như sau: kí ức hình tượng của chữ (orthographic memory hay "grapheme"), nhận thức được âm thanh ("phonemes"), và kiến thức về cấu trúc của chữ. Ví dụ như chữ 't' là grapheme, còn đọc thành 'ti' là phonome. Trẻ em học grapheme trước rồi mới học phoneme.

Theo một nhà nghiên cứu (Ehri) thì đa số trẻ em trước khi đến trường đã 'thí nghiệm' viết khi còn ở nhà, họ có thể biết tên của vài mẫu tự, nhận ra hình dạng, và nhận ra mẫu tự đó phát âm ra sao, nhưng họ không hiểu chữ. Do đó, đọc trong giai đoạn này là "logographic", tức là trẻ em đoán nguyên chữ dựa trên các đặc điểm hình dạng của chữ. Sau đó thì trẻ em mới nhận thức được âm thanh của các mẫu tự (giai đoạn này họ gọi là 'Semiphonetic stage'). Sau giai đoạn nhận thức âm thanh mới đến giai đoạn 'phonetic spelling stage', tức trẻ em có kiến thức về chữ và mẫu tự và hình thành cách phát âm. Sau đó là các giai đoạn chuyển tiếp (transitional stage) và tích hợp (integration stage).

Tôi chỉ mô tả ngắn ngọn thế thôi để nói rằng các nghiên cứu khoa học trong vài thập niên gần đây chỉ ra rằng trẻ em học từ hình tượng của chữ rồi mới đến âm thanh, và qua vài giai đoạn sau đó để hình thành cách đánh vần. Còn những người CNGD nói ngược lại: họ chủ trương rằng trẻ em học tiếng rồi mới học chữ. Có thể họ đúng, nhưng cũng có thể họ sai, chúng ta chưa nói được vì thiếu bằng chứng khoa học. Cái khác biệt là ở chỗ đó: người ta làm có nghiên cứu khoa học (rất nhiều), còn nhóm CNGD thì chẳng có nghiên cứu nào để công chúng xem.

Ngay cả vai trò dạy tiếng [chưa nói đến dạy trước hay sau] cũng còn trong vòng tranh cãi. Bài này (4) cho rằng Úc không nên dạy theo cách đó của Anh, còn bài này thì giải thích về phương pháp phonics (5). Bài này (6) của một chuyên gia khuyên rằng không nên dạy tiếng mà nên dạy viết: "If you want children to learn to spell, teach them spelling – not phonics" (6). Đọc qua những bài này của các chuyên gia thứ thiệt thì mới biết cái phương pháp phonics này còn trong vòng tranh cãi nhiều lắm. Nhưng chủ trương của Sở Giáo dục Victoria (Úc) (7) thì nói rõ rằng giáo viên dạy cả hai "grapheme and phoneme" (hình tượng và tiếng), chứ không có chuyện 'trước sau'.

Dĩ nhiên, tất cả những bằng chứng khoa học ở trên chỉ liên quan đến tiếng Anh. Còn các tiếng khác thì cũng đã có nghiên cứu, nhưng ít hơn nghiên cứu tiếng Anh. Riêng tiếng Việt và cái CNGD thì không có nghiên cứu bài bản như họ. Nhưng giáo dục cần phải dựa trên chứng cứ (hay giáo dục thực chứng - evidence based education). Triển khai một chương trình giáo dục mới mà không qua nghiên cứu khoa học có bình duyệt thì khó mà nói rằng đó là giáo dục thực chứng, mà chỉ là giáo dục theo ý chí. Công chúng và phụ huynh có quyền đòi bằng chứng nghiên cứu khoa học (8) từ những người chủ trương CNGD (ngay cả chữ 'công nghệ giáo dục' cũng đã đáng bàn!)

Nói tóm lại, những gì mà nhóm CNGD muốn áp đặt thiếu tính thuyết phục vì chẳng những không có bằng chứng khoa học, mà còn thiên lệch về cách cung cấp thông tin. Ngoài ra, cách họ lí giải có vẻ thiên lệch hẳn về một hướng, chứ không phải cung cấp thông tin khoa học như bài báo ở phương Tây (1-6). Hi vọng rằng cái note nhỏ này giúp cho các bạn thêm thông tin để nhận xét, thay vì bị dẫn dắt bởi những 'chuyên gia' không có nghiên cứu khoa học và quá 'biased'.

(8) Thế nào là nghiên cứu khoa học? Thỉnh thoảng vẫn phải đặt lại câu hỏi này trong bối cảnh Việt Nam. Khi nói "nghiên cứu khoa học" là tôi muốn đề cập đến khái niệm "Scientific Research". Nghiên cứu khoa học (khác với 'nghiên cứu') là một cuộc điều tra có/dựa trên giả thuyết (hypothesis) và được tiến hành theo Phương Pháp khoa học (Scientific Method). Phương pháp Khoa học là một tập hợp các kĩ thuật về lấy mẫu, đo lường, phân tích dữ liệu. Hai yếu tố này -- giả thuyết và phương pháp khoa học -- rất quan trọng, vì nó đảm bảo tính tái lập (reproducibility) của khoa học. Kết quả nghiên cứu không mang tính tái lập thì đó không có tính khoa học nữa.

Nhưng nhiều người hiểu lầm rằng những đánh giá thường qui là nghiên cứu khoa học. Do đó, chúng ta đọc thấy các luận án với những tựa đề như "Hoàn thiện công tác ...", "Đánh giá vai trò của Nhà nước", "Đánh giá chương trình giáo dục ...", "Giải pháp nâng cao ...", v.v. rất khó có thể xem là nghiên cứu khoa học. Lí do là vì những đề tài như thế chẳng có giả thuyết khoa học và phương pháp làm không phải là một thí nghiệm theo Phương pháp Khoa học. Những dữ liệu từ những 'nghiên cứu' như thế khó có thể xem là bằng chứng khoa học (scientific evidence), bởi không đáp ứng tiêu chuẩn tái lập.

Những tranh cãi chung quanh cái 'công nghệ giáo dục' không cho ra ánh sáng, một phần là người ta hiểu về nghiên cứu khoa học và bằng chứng khoa học không như cách hiểu chuẩn. Nghiên cứu khoa học không phải làm thống kê hành chánh và thường qui. Người ta xem những báo cáo thống kê tổng kết (chưa thấy công bố trên bất cứ journal nào) hay những câu chuyện cá nhân là bằng chứng! Đó có thể là bằng chứng, nhưng không phải là 'bằng chứng khoa học'.

Nguồn: bs Nguyễn Văn Tuấn


Trang     1     2     3     4     5     6     7     8     9     10

Cập nhật lớp mới thường xuyên tại facebook: